Chùa Linh Sơn được xây dựng vào năm 1806 bởi tổ sư Bửu Tịnh tại ấp Phú Lợi, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Linh Sơn được Ủy ban Nhân dân TP.HCM công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật theo Quyết định số 4347/QĐ-UBND ngày 13-10-2008.
Lịch sử ngôi chùa
Năm 1806, tổ sư Bửu Tịnh thành lập Chùa. Ban đầu Chùa Linh Sơn chỉ đơn giản là một am tranh, các Sư Thầy thời bấy giờ thỉnh Phật từ nơi khác về thờ, để làm chỗ cho những người con Phật Tử nương tựa chống lại thiên nhiên khắc nghiệt.
Cho đến năm 1816, chùa Linh Sơn được tạo dựng khang trang với hai nóc chánh điện và nhà tổ, mái lợp ngói âm dương, cửa gỗ, cột kèo cũng được làm bằng nhiều loại gỗ quý hiếm nhờ lòng hảo tâm và sự đóng góp của Phật tử khắp nơi.
Năm 1936, chùa xây cất thêm nhà giảng
Năm 1957 chùa xây thêm nhà khách với cột gỗ tròn đứng tán, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch tàu, vách tường cũng được xây kiên cố bằng gạch.

Giá trị kiến trúc nghệ thuật tại Chùa Linh Sơn
Chùa Linh Sơn được xây dựng theo lối chữ Tam, gồm ba nếp nhà liền kề nhau lần lượt là chánh điện, giảng đường, nhà khách. Các tòa nhà có kiến trúc tứ trụ.
Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, “kiểu nhà tứ trụ là kiểu kiến trúc nhà rường (còn gọi là xiên trính/xuyên trếnh), một trong hai kiểu kết cấu phổ biến của thức kiến trúc Đàng Trong. Bốn cây cột cái bố trí cách đều nhau ở bốn góc một diện tích hình vuông, và từ bốn cột cái đó, các kèo đấm và kèo quyết đưa đều ra bốn hướng tạo thành một ngôi nhà vuông vức.

Trong sự tiến hóa đó, ngôi nhà tứ trụ là kiểu thức kiến trúc thờ tự còn bảo lưu được những đặc trưng cơ bản của stupa/caitya – kiến trúc thờ tự truyền thống của Phật giáo mà ngày nay chúng ta có thể tìm thấy ở các di tích cổ của Phật giáo ở khắp châu Á.
Nói cách khác, việc sử dụng kiểu nhà tứ trụ để làm chánh điện thờ Phật như một chuẩn tắc phổ biến và duy trì mãi đến nay, có thể coi là sự bảo lưu truyền thống kiến trúc stupa/caitya; và mặt khác, việc chọn kiểu nhà tứ trụ để làm đình, miếu, vũ để thờ tự các thần linh ở Nam Bộ là chứng tích chỉ ra sự ảnh hưởng của kiến trúc Phật giáo đối với kiến trúc miếu, vũ của các tín ngưỡng dân gian và truyền thống khác ở mảnh đất này. Đó là một ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa phương Nam hay rộng hơn là Đàng Trong”.

Ngoài ra, hiện trong chùa có bộ Di Đà tam tôn bằng gỗ; một Tiểu hồng chung bằng đồng có khắc chữ Hán, với thông tin về vị chứng minh và tín chủ cúng dường: “Sắc tứ Tập Phước tự. Kim tín chủ Phan Thị Đinh cúng dường. Phước Thường Yết-ma chứng minh”. Trên bàn thờ Tổ có tượng ngài Đạt-ma Tổ sư bằng gỗ ở tư thế ngồi cao 70 cm; một tượng Di Lặc chất liệu đất nung, nhiều hoành phi, liễn đối,…
Hai bên phải và trái chánh điện là hai bàn thờ Thập bát La-hán. Dựa trên công trình sưu tầm và biên soạn về “Lý lịch Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Linh Sơn” của Nguyễn Văn Đức và Trần Thị Thanh Thảo thì bàn thờ này trước kia là gỗ từng có khắc lạc khoản bằng chữ Hán với nội dung được phiên âm: “Phú Hòa Đông Hội đồng địa hạt Võ Văn Duệ phụng cúng, Ất Sửu niên trọng đông thập ngũ nhựt khánh tạo”. (Ông Hội đồng địa hạt ở Phú Hòa Đông là Võ Văn Duệ phụng cúng tạo ngày 15-11-năm Ất Sửu (1925). Do bị mối mọt làm hư hỏng, hiện bàn thờ gỗ này không còn, được thay thế bằng bàn thờ xi-măng.
Nói về bộ tượng đất nung Thập bát La-hán, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng nhận định, bộ tượng đất nung thuộc gốm Biên Hòa, Đồng Nai, thế kỷ XX. Cũng theo ông, vì Nam Bộ là nơi giao hội của nhiều dòng chảy văn hóa, theo đó, những thành tựu của gốm thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là kết quả của nhiều cội nguồn mà đối với mỗi đối tượng cụ thể, buộc phải truy cứu theo nhiều khảo hướng khác, dựa trên những cứ liệu điều tra thực địa, phân tích tường tận bản thân từng vấn đề liên quan đến mỗi chuẩn loại cụ thể.








